Blog Archive

Friday, August 31, 2012

Lời khuyên cho “mô hình lực lượng dân quân biển” Việt Nam


 

Sau đây là bài viết “Advice on a Vietnamese “Model Maritime Militia Force” – Lời khuyên cho “mô hình lực lượng dân quân biển” Việt Nam” của tác giả James R. Holmes đăng trên tờ The Diplomat đáng để Việt Nam chúng ta tham khảo :
Một tác giả Việt Nam nói rằng Hà Nội đang “tìm kiếm mô hình lực lượng dân quân biển”, có lẽ là để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, a hem, một quốc gia châu Á lớn nào đó đang nuôi dưỡng mưu đồ riêng của mình về quần đảo này. Theo đó, vài suy nghĩ về triển vọng xây dựng một lực lượng như vậy. Thoạt đầu, khái niệm về dân quân tự vệ biển có vẻ viển vông. Các quốc gia có lực lượng hải quân, bảo vệ bờ biển, và tàu thương mại, tất cả đều có chức năng riêng, được xác định rõ ràng. Phải không?
Không nhất thiết. Có nhiều tiền lệ cho các cách khác nhau của việc kinh doanh tại vùng biển giàu tài nguyên này. Trăm hoa nở!  Trong tác phẩm “Bảo vệ biển”, viết về lịch sử (và tiền sử) của lực lượng hải quân Anh, sử gia N. A. M. Rodger quan sát thấy rằng các quốc gia biển đã từng có rất nhiều đội tàu trong nhiều thế kỷ. Vai trò và sứ mệnh của họ đã bị lu mờ, biệt ở giai đoạn trước khi triều đình tổ chức hải quân chính quy, thường trực. Chiến tranh trên biển từng là chiến thuật đầy bất ngờ ở thời kỳ xa xưa.
Lời khuyên cho mô hình dân quân biển của Việt Nam
Lời khuyên cho mô hình dân quân biển của Việt Nam. Image credit: Wikicommons
Đặc điểm của lịch sử hàng hải xem như đã gần bị quên lãng. Ví dụ, năm 2009, Đại sứ Hàng hải sang thăm Viện Quan hệ Quốc tế Clingendael, The Hague, để chiêu đãi các vị tư lệnh của Hải quân Hà Lan – những người được cử đến để thực hiện chương trình Atalanta, chiến dịch chống cướp biển trên Vịnh Aden của EU. Đại sứ Hàng hải đến đây với một vài ý tưởng làm thế nào để bảo vệ các thương gia đang quá cảnh qua vùng biển khu vực này.
Ý kiến của tôi: Vịnh Aden là một vùng biển lớn. Hải quân sẽ không bao giờ có thể triển khai đủ lính đến đây để bảo vệ từng tàu hàng trước các cuộc tấn công của hải tặc. Vậy tại sao không trang bị vũ khí cho những tàu hàng đó? Các đội tàu, lực lượng phòng thủ, thậm chí là thủy thủ, được trang bị vũ khí, có thể giữ được thế trận áp đảo bọn hải tặc trên những con tàu nhỏ. Thấy có vẻ hợp lý. Tôi đã so sánh với việc những người định cư tự trang bị vũ khí để đánh lại cướp ở Miền Tây Hoang Dã, nhưng nó gây ra phản ứng ngược một cách đáng sợ. Tôi nghĩ là cần nhiều “chủ nghĩa cao bồi Mỹ” hơn.
Rồi tôi trở lại với quá khứ hàng hải của châu Âu. Sau khi người ta sáng chế ra súng hải quân, các vua chúa châu Âu ra lệnh tất cả các thương gia đều phải được trang bị vũ khí mới nhất. Được trang bị như thế, họ có thể tự vệ trước bọn cướp. Họ cũng có thể có vị trí chiến đấu nào đó khi đất nước đưa hải quân ra đánh nhau với kẻ thù. Các bên đều có lượng lớn thương nhân được trang bị vũ khí, khi Ngài Francis Drake chỉ huy Hải quân Anh chiến đấu với đội tàu của xứ Medina Sidonia của Tây Ban Nha. Tôi đã nói: Tại sao lại không rót rượu thời Phục Hưng vào chai của thế kỷ 21. Trang bị vũ khí cho tàu buôn sẽ bảo đảm trên vùng biển ngoài khơi Somalia, sức mạnh sẽ được đáp trả bằng sức mạnh, thủy thủ sẽ có cơ hội để chiến đấu.
Ý tưởng về dân quân biển cũng đã từng mê hoặc người Mỹ từ thời xưa, một nhóm dân quân cầm vũ khí  đánh lại quân Redcoast ( quân đội Anh) trong trận Lexington – Concord, ngày nay vẫn là ký ức sống động. Tại sao lại không áp dụng mô hình đó cho chiến tranh trên các đại dương? Alfred Thayer Mahan chỉ trích thế hệ lập quốc vì họ đã tưởng họ có thể tổ chức ngay lập tức một “lực lượng dân quân biển” ít tốn kém để chống lại các tàu của Anh quốc trong cuộc tranh 1812. Mahan viết: Hải quân Mỹ và tàu chống cướp biển đạt được một số thành công đáng chú ý trong các cuộc đụng độ, nhưng Hải quân Hoàng gia đã bóp chết gần như toàn bộ tàu buôn Mỹ  vào trước năm 1814.
Tôi nghĩ ở đây có một bài học như của Mahan để lại cho Việt Nam. Lực lượng Dân Quân có thể gây rối những kẻ địch mạnh hơn họ rất nhiều, nhưng tỷ số thua so với thắng của họ quả thật là kéo dài.
Những cách thức kỳ cục để tổ chức đội tàu chẳng phải cái gì độc đáo, chỉ có ở phương Tây. Không phải nhìn đâu xa, nước Trung Hoa phong kiến đã giao phó việc bảo vệ bờ biển cho các đội tàu địa phương khác nhau. Chẳng hạn, ngư dân thường hoạt động như cánh tay bổ trợ cho lực lượng trên biển của Trung Quốc.
Một số truyền thống như thế đã kéo dài sang thời cộng sản. Ví dụ, Bắc Kinh ca ngợi vai trò của đội tàu cá quốc gia trong trận hải chiến năm 1974 với hải quân Miền Nam Việt Nam ở quần đảo Hoàng sa. Theo câu chuyện chính thức được kể lại, ngư dân Trung Quốc đã góp phần đưa hải quân nhân dân đến chiến thắng – chứng minh “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc trên các vùng biển phía nam. Ngư dân tiếp tục là lực lượng hỗ trợ trong chiến dịch hàng hải của Trung Quốc, cho đến tận ngày nay.
Các nhà chiến lược ở Hà Nội cũng nên nghiên cứu vấn đề dân quân trên biển thông qua một lăng kính đó là đọc lại học thuyết của Mao Trạch Đông về chiến tranh ba giai đoạn. Căn cứ lời Mao viết thì Việt Nam đang ở giai đoạn 1 của một cuộc đấu tranh kéo dài, khi họ phải dựa vào tài sản nghèo nàn của mình để quấy nhiễu một kẻ thù mạnh hơn rất nhiều. Họ đối đầu với một nước Trung Hoa vốn dĩ đang triển khai một hạm đội hải quân theo quy ước, rất hùng mạnh. Hải quân Trung Hoa có lẽ đang ở giữa giai đoạn 2 và 3 rồi, và đang tiếp tục phát triển. Dân quân biển cần một chỗ che chắn để có thể phát huy sức mạnh thực sự của họ. Đó là một thứ xa xỉ mà cả ngư dân Trung Quốc lẫn các chiến binh bán thời gian khác đều thích, mà dân quân Việt Nam lại không có.
Mahan rút ra nhiều bài học tương tự từ Chiến tranh năm 1812. Tàu khu trục nhỏ và các hoạt động của tàu nhỏ khác đều tốt cả, nhưng bản thân chúng không bao giờ có thể đóng vai trò quyết định khi đương đầu với một lực lượng hải quân hùng mạnh. Người Mỹ sẽ tự lừa dối mình nếu họ tin vào điều ngược lại. Tương tự, Việt Nam cần xây dựng một lực lượng hải quân chuyên nghiệp cho riêng mình, xây dựng liên minh hoặc quan hệ đối tác để làm tăng thêm sức mạnh trên đại dương, hoặc để giữ hòa khí với sức mạnh Trung Quốc.
Có một số tiền lệ trong đó một nước trên bộ nhỏ yếu có thể mượn một hạm đội để chiến đấu với một siêu cường về biển. Đó là cách Sparta đã sử dụng để chiến thắng hải quân thành Athen hùng mạnh hơn 2500 năm về trước. Thực tế, người Sparta quen sống trên đất liền đã mượn đội tàu Ba Tư, vào thời điểm quan trọng nhất của cuộc chiến Peloponnesia, tiến tới chinh phục thành Athen suy yếu. Chính trị tạo nên những người bạn cùng phe rất lạ lùng.
Một điểm cuối trong học thuyết của Mao. Mao viết rằng các du kích luồn lách trong nhân dân giống như cá bơi trên biển, hòa mình trong nước để tránh các hoạt động chống chiến tranh du kích. Điều này được áp dụng như thế nào đối với một lực lượng dân quân biển phải đi xa khỏi bờ biển Việt Nam? Tàu nhỏ thuyền nhỏ có thể hòa vào hoạt động gần bờ trên các vùng biển đông đúc, lẫn vào cả đám đông tàu thuyền để tránh bị phát hiện, bị xác định và tấn công. Hoạt động ẩn náu mà Mao đã dự đoán từ trước đó, là điều khả thi tại các vùng biển gần bờ. Quả thật, hoạt động trên các vùng biển nước nông có thể chiến thắng cả lực lượng hải quân mạnh.
Hiệu quả sẽ đến đâu khi vượt khỏi đánh bắt gần bờ, khi “biển” phục vụ hàng hải bị thu hẹp, “ngư trường” hết cá, và chỉ hải quân cực mạnh mới vươn ra được? Tôi chưa rõ mô hình dân quân biển sẽ thích ứng với vùng biển nước sâu như thế nào.
Hà Nội đối mặt với một nhiệm vụ bí ẩn, phải giữ yêu sách chủ quyền lâu dài chống lại một đối thủ có ưu thế vượt trội về kinh tế và ngày càng được trang bị kỹ. Đó không phải là điều mong muốn.
James R. Holmes (Trường Sa dịch)
Nguồn: http://thediplomat.com/the-naval-diplomat/2012/08/30/advice-on-a-vietnamese-model-maritime-militia-force/

No comments:

Post a Comment