Blog Archive

Wednesday, September 12, 2012

Israel và Hoa Kỳ sẽ tấn công Iran như thế nào?


Mỹ sẽ phải vận hành toàn bộ cỗ máy chiến tranh với hàng trăm chiếc máy bay nếu nghe theo lời kêu gọi của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tấn công Iran nhằm phá hủy chương trình hạt nhân của nước Cộng hòa Hồi giáo.
Việc đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iran cần phải có nỗ lực toàn diện, với các đội máy bay ném bom, máy bay chiến đấu, các nhóm biệt kích, các hàng rào tên lửa đánh chặn và các nhóm tàu sân bay tấn công, kèm theo các máy bay không người lái, thiết bị do thám, máy bay tiếp liệu và hỗ trợ hậu cầu để tiến hành một chiến dịch rầm rộ. Và kết quả tốt nhất của chiến dịch chỉ có thể giúp đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iran thêm một thập niên.
Kịch bản chiến tranh
Các kịch bản về một cuộc tấn công Iran đã được chuyên gia quốc phòng Anthony Cordesman và Abdullah Toukan thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington (CSIS) vạch ra trong một báo cáo có tên “Phân tích tác động của cuộc tấn công phủ đầu các cơ sở hạt nhân Iran” vừa được công bố vào tuần trước.
Máy bay ném bom B-2 và máy bay hộ tống trong một cuộc tập trận của Mỹ - Ảnh: Reuters
Máy bay ném bom B-2 và máy bay hộ tống trong một cuộc tập trận của Mỹ - Ảnh: Reuters
Báo cáo dài 98 trang nêu rõ mọi thứ, từ số lượng các máy bay ném bom cần thiết cho đến từng loại bom sẽ mang theo. Sau khi phân tích các cuộc tấn công tiềm tàng của cả Israel và Mỹ, cuộc phản công của Iran và cách thức để vô hiệu hóa, hai tác giả đã đưa ra hai kết luận chính:
- “Israel không có khả năng tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu có thể kéo lùi chương trình của Iran được hơn một hoặc hai năm”. Bất chấp những lời lẽ cường điệu từ Israel, ý tưởng Tel Aviv phát động một cuộc tấn công đơn phương cũng tồi tệ như việc cho phép Tehran tiếp tục chương trình hạt nhân. Nó sẽ tạo ra một làn sóng các cuộc phản công của Iran, bằng tên lửa, khủng bố và chiến hạm, gây nguy hiểm cho các nước ở khu vực, tàn phá nguồn cung cấp dầu của thế giới, ngay cả khi Israel có thể hoàn thành sứ mệnh.
- Mỹ có khả năng đẩy lùi chương trình hạt nhân của Tehran đến 10 năm. Song họ sẽ phải tiến hành một chiến dịch đồ sộ nếu muốn làm thế. Một cuộc không kích ban đầu sẽ cần có một khối lượng công việc cực lớn, bao gồm việc huy động máy bay ném bom chủ lực, tiêu diệt hệ thống phòng không của đối phương, máy bay hộ tống để bảo vệ máy bay ném bom, chiến tranh điện tử phục vụ cho mục đích lẩn tránh radar và gây nhiễu, các đội máy bay tuần tiễu chiến đấu nhằm chống lại mọi cuộc trả đũa của Iran.
Tuy nhiên, cuộc tấn công ban đầu có vẻ là phần dễ nhất, theo hai ông Cordesman và Toukan. Cùng lúc đó, Mỹ phải giữ không cho Iran phong tỏa eo biển Hormuz tối quan trọng, nơi 20% lượng dầu trên thế giới được vận chuyển qua. Và Mỹ phải bảo vệ các đồng minh sản xuất nhiên liệu ở vùng Vịnh nếu muốn dầu tiếp tục được vận chuyển qua eo biển này.
Tấn công phủ đầu
Đó không phải là một nhiệm vụ tầm thường. Báo cáo viết: “Iran có thể chọn lựa mục tiêu để gây áp lực và đe dọa Mỹ cùng các nước ở phía nam vùng Vịnh. Họ có thể sử dụng tên lửa quy ước tầm xa hoặc máy bay không người lái chống lại những mục tiêu quân sự lớn hoặc đô thị như là vũ khí khủng bố. Họ có thể tấn công rời rạc và không thể đoán trước trong một cuộc chiến tranh tiêu hao hoặc cố gắng tấn công lực lượng hải quân Mỹ và các nước vùng Vịnh”.
Máy bay chiến đấu hộ tống máy bay ném bom B-2 (giữa) của Mỹ
Máy bay chiến đấu hộ tống máy bay ném bom B-2 (giữa) của Mỹ - Ảnh: US Air Force
Một số phương án phòng thủ đã được Mỹ xúc tiến. Để bảo vệ eo biển Hormuz, Mỹ đã duy trì các nhóm tàu tấn công tại khu vực, điều các tàu chiến, tàu rà phá thủy lôi và tàu ngầm tự động đến gần Bahrain. Để phát hiện tên lửa Iran, vốn có thể bắn trúng mục tiêu trong vòng bốn phút, Mỹ đang xây dựng trạm radar X-band tối tân ở Qatar.
Để tiêu diệt những tên lửa tầm trung và tầm ngắn của Iran, Mỹ đã bán các hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot và THAAD trị giá hàng tỉ USD cho Ả Rập Xê Út, Kuwait và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Các tên lửa đánh chặn sẽ được bổ trợ bởi các tàu tuần dương và tàu khu trục trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis tối tân của hải quân Mỹ.
Tuy nhiên, để bảo đảm tên lửa của Tehran không bắn trúng thủ đô Riyadh của Ả Rập Xê Út hoặc thủ đô Kuwait City của Kuwait, Mỹ phải loại ra khỏi cuộc chơi 8 căn cứ tên lửa đạn đạo và 15 cơ sở sản xuất tên lửa của Iran, cùng 22 bệ phóng tên lửa nếu tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu.
Mỹ “cần phải tiêu diệt càng nhiều bệ phóng tên lửa càng tốt… để giảm số lượng đầu đạn sắp bay tới”, báo cáo viết.
Mỗi mục tiêu cần hai chiếc máy bay, gồm các loại F/A 18 cất cánh từ tàu sân bay hoặc F-15E và F-16C cất cánh từ các căn cứ không quân gần đó. Tổng cộng, cần phải có đến 90 máy bay. Các mục tiêu phụ có thể bao gồm các nhà máy lọc dầu, mạng lưới điện, căn cứ quân sự, đường xá và cầu cống.
Các máy bay ném bom và tiêm kích của Mỹ có thể thoải mái bắn phá trước sự kém cỏi của lực lượng phòng không Iran. Tuy nhiên, vẫn cần phải loại bỏ hệ thống phòng không và các máy bay chiến đấu của Iran trước khi chúng có thể xoay sở bắn một phát hú họa.
Các máy bay không người lái sẽ được triển khai để thực hiện các sứ mệnh do thám, gây nhiễu hoặc tiêu diệt lực lượng và hệ thống phòng không của phía bên kia. Các lực lượng đặc biệt sẽ tiến hành những sứ mệnh hành động trực tiếp, do thám và cung cấp chỉ dẫn cho các cuộc tấn công nhắm vào những mục tiêu có giá trị cao. Và bằng cách này hay cách khác, cũng cần phải hạn chế khả năng tấn công từ các lực lượng đồng minh của Iran, gồm Hamas và Hezbollah.
Cuộc tấn công chủ lực
Cần phải sử dụng một đội hai chiếc máy bay ném bom B-2 bay từ căn cứ hải quân Diego Garcia ở Ấn Độ Dương để tiêu diệt một trong năm cơ sở hạt nhân của Iran, gồm Fordow, Arak, Esfahan, Natanz và Parchin. Mỗi máy bay sẽ mang theo hai loại bom phá boongke “hàng khủng” GBU-57.
Bom GBU-57 được chế tạo để xuyên qua lớp đất đá, bê tông cốt thép nhằm phá hủy những hầm ngầm của Iran, theo ông Cordesman, người tin rằng loại bom này có thể đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iran nhiều năm.
Israel có thể có khả năng tiến hành một cuộc ném bom như thế song lực lượng của họ chỉ vừa vặn đủ để tiến hành chuyện này. Israel cần phải sử dụng phần lớn số máy bay chiến đấu của không quân và toàn bộ các máy bay tiếp liệu, khiến họ không còn máy bay để tấn công những mục tiêu thứ hai.
Các máy bay sẽ phải bay sát biên giới Syria và Thổ Nhĩ Kỳ trước khi bay qua Iraq và Iran. Và đây rõ ràng không phải là những lãnh thổ thân thiện.
Việc huy động đủ số lượng máy bay, máy bay tiếp liệu và “đến được mục tiêu mà không bị phát hiện hoặc ngăn chặn sẽ phức tạp, có nguy cơ cao, và sẽ có ít đảm bảo rằng sứ mệnh chung sẽ đạt được tỷ lệ thành công cao”, báo cáo của CSIS viết.
Và thậm chí nếu các lò phản ứng bị tấn công, “cuộc trả đũa của Iran sẽ có hậu quả tàn phá với khu vực”, theo báo cáo.
Sơn Duân (TNO)

Nhật sẽ triển khai lực lượng nghênh đón tàu TQ


Nhật Bản hôm nay 12/9 cho biết sẽ triển khai lực lượng bảo vệ bờ biển khi tàu hải giám của Trung Quốc tiến vào quần đảo tranh chấp trên Hoa Đông, làm dấy lên nguy cơ đối đầu giữa hai cường quốc châu Á.
Trong tuyên bố gửi cho Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) vào ngày hôm nay 12/9, Bộ Ngoại giao Nhật cho biết sẽ huy động lực lượng bảo vệ bờ biển “khi tàu Trung Quốc tới đó, hay ít nhất là tới gần” quần đảo do Nhật kiểm soát.
Trước đó hãng thông tấn Trung Quốc Tân Hoa xã cho biết 2 tàu hải giám nước này “đã tiến vào vùng biển quanh” quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vào sáng ngày thứ ba 11/9, trong hành trình nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh.
Kể từ đó, báo chí Trung Quốc không đưa thêm tin về hoạt động của tàu. Bộ Ngoại giao Nhật cho biết họ không thể xác định vị trí của các tàu Trung Quốc.
Thông tin trước đó của Tân Hoa xã cũng cho biết cơ quan phụ trách các tàu sẽ “có hành động phụ thuộc vào diễn tiến tình hình”.
Trong những năm gần đây lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật đã đối đầu với ngư dân cũng như những nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc trong vùng biển Senkaku/Điếu Ngư nhiều lần.
Quần đảo Senkaku
Quần đảo Senkaku
Tokyo gọi quần đảo tranh chấp là Senkaku trong khi Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư. Vùng biển bao quanh quần đảo này chứa nguồn thủy sản dồi dào và cũng như trữ lượng dầu khí lớn.
Tokyo sáp nhập quần đảo vào trong lãnh thổ của mình năm 1895, trong khi Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền với quần đảo năm 1971 và cho biết các đảo là một phần lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại.
Trung Quốc đã phái tàu ngư chính tới quần đảo nhằm phản ứng trước quyết định mua một số đảo trong quần đảo của chính phủ Nhật. Những đảo này thuộc sở hữu của một gia đình Nhật trong suốt nhiều thập niên qua. Giới chức Nhật hôm thứ ba vừa qua cho hay thỏa thuận mua đảo trị giá 26 triệu USD là nhằm “duy trì hòa bình và ổn định” đối với quần đảo.
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Geng Yansheng hôm qua cũng cho biết quân đội nước này “kịch liệt phản đối” việc quốc hữu hóa quần đảo của Nhật. Ông cho biết quân đội trung Quốc “theo dõi sát tình hình…và có quyền đưa ra biện pháp đáp trả”.
Hãng thông tấn Jiji của Nhật dẫn “các nguồn thạo tin” cho rằng tuyên bố của quân đội Trung Quốc cho thấy quan điểm “cứng rắn” chống Nhật đang “gia tăng” trong quân đội Trung Quốc.
Trong khi đó Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo và ngày hôm qua hòn đảo này đã gửi phản đối lên đại diện ngoại giao của Nhật.
Vũ Quý(DTO)

Tướng Trung Quốc đề nghị “chiến tranh không giới hạn” trên biển Đông


Thiếu tướng Kiều Lượng đã đề xuất sử dụng “chiến tranh không giới hạn” đối với tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trên biển Đông.
Thiếu tướng Kiều Lượng là sĩ quan cao cấp của Quân đội Trung Quốc. Ông là đồng tác giả cuốn sách “Chiến tranh không giới hạn” và ủng hộ áp dụng khái niệm này cho các vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông.
Thiếu tướng Kiều Lượng đã đề xuất sử dụng chiến tranh không giới hạn đối với biển Đông.
Thiếu tướng Kiều Lượng đã đề xuất sử dụng chiến tranh không giới hạn đối với biển Đông.
“Chiến tranh không giới hạn” là một cuốn sách được viết bởi hai đại tá Kiều Lượng, Vương Quang Sử trong Quân đội Trung Quốc vào năm 1999.
Nội dung cuốn sách đề cập đến vấn đề làm thế nào để Trung Quốc có thể đánh bại một đối thủ có công nghệ vượt trội như Mỹ thông qua một loạt các phương pháp khác nhau.
Thay vì tập trung vào đối đầu quân sự trực tiếp, cuốn sách đề cập đến một loạt giải pháp khác nhau, tận dụng kẽ hở của Luật pháp quốc tế cùng với một loạt các biện pháp kinh tế đẩy đối thủ của mình vào khủng hoảng kinh tế phá vỡ sự cần thiết phải sử dụng đến hành động quân sự trực tiếp.
Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo gia tăng, Tướng Kiều Lượng đề xuất áp dụng khái niệm “chiến tranh không giới hạn” để đối phó với Mỹ và các nước có trah chấp.
Theo vị tướng này, trong vấn đề biển Đông, để tránh một cuộc chiến tranh không có nghĩa là không sử dụng đến lực lượng quân sự và không có nghĩa như vậy là không có xung đột. Điều quan trọng là làm thế nào để “kiểm soát cường độ của cuộc xung đột”.
Điều đó chỉ ra rằng, một số “hành động đặc biệt” là cần thiết để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc nhưng không phải để cho cả nước đẩy lên quy mô đầy đủ của một cuộc chiến tranh tổng lực.
Tướng Kiều Lượng nhận xét, nếu không thực sự đụng đến “lợi ích cốt lõi” của Mỹ, Mỹ sẽ không để xảy ra chiến tranh nóng với Trung Quốc vì Phillippine hay các nước ASEAN khác trong vấn đề tranh chấp biển Đông.
Lợi ích chiến lược giữa Trung – Mỹ có một sự ràng buộc lẫn nhau rất lớn, do đó lợi ích giữa hai nước không thể bị chia rẽ bởi một nước nhỏ. Một cuộc xung đột Mỹ – Trung chỉ là một sự “thất bại và thất bại”. Điều đó chỉ mang lại cơ hội cho các bên thứ ba.
Tướng Kiều Lượng nói rằng, Trung Quốc cần sự khôn ngoan, một chiến lược xuất sắc và một sự kiên nhẫn trong việc giải quyết mối quan hệ với Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhiều lần tuyên bố Mỹ muốn sử dụng “quyền lực thông minh” và Trung Quốc nên tìm hiểu và học hỏi điều này.
Nếu Trung Quốc áp dụng chiến lược này trên biển Đông điều này sẽ đặt các nước trong khu vực Đông Nam Á vào tính huống rất khó xử và điều đó càng làm cho các tranh chấp chủ quyền trên biển Đông trở nên phức tạp, nguy cơ xung đột vũ trang trên biển Đông sẽ trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết.
Theo (ĐVO)

Báo Nhật đánh giá khả năng TQ dùng vũ lực chiếm Senkaku


Trước nguy cơ căng thẳng Trung – Nhật có thể bùng phát thành cuộc đối đầu quân sự, báo chí Nhật Bản đã đưa ra những phân tích đánh giá khả năng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chiếm quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.
Báo Yomiuri của Nhật Bản đăng bài viết của cựu Chỉ huy đội tàu chiến Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản, ông Yoji Koda, cho rằng nếu tình hình quanh chuỗi đảo không có người ở này tiếp tục bị kéo căng như hiện nay thì nguy cơ bùng nổ chiến tranh nóng là điều rất khó tránh khỏi.
Theo tác giả bài báo, một khi xung đột nổ ra, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực chiếm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hiện do Tokyo quản lý, nhưng cả Trung – Đài đều đòi chủ quyền.
Cả Nhật Bản và Trung Quốc đều tuyên bố có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Senkaku/Điều Ngư.
Cả Nhật Bản và Trung Quốc đều tuyên bố có chủ quyền không thể chối cãi đối với quần đảo Senkaku/Điều Ngư.
Cuộc chiến ấy, nếu xảy ra, sẽ theo kịch bản như sau:
Đầu tiên, Trung Quốc “lùa” các tàu dân sự trá hình tiến hành đánh bắt cá phi pháp ở quy mô lớn ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hoặc ngay trong lãnh hải của Nhật Bản.
Sau đó, Bắc Kinh lệnh cho các tàu này lần lượt tiếp cận và đổ bộ lên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Sau khi đợi các tàu cá “đổ bộ” xong, các tàu tuần duyên và ngư chính của Trung Quốc sẽ nắm quyền kiểm soát thực tế bằng cách phối hợp hành động để bảo vệ và chi viện cho các tàu cá.
Trong quá trình đánh chiếm đó, Trung Quốc sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn gì để đạt bằng được mục tiêu chiếm giữ Senkaku/Điếu Ngư.
Theo tác giả Yoji Koda, không phải bây giờ mà ngay từ đầu năm nay, Trung Quốc đã bắt đầu tuyên bố rõ ý đồ sẽ “sớm giành lại quyền kiểm soát hiệu quả” quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Để thực hiện ý đồ này, Trung Quốc sẽ lặp lại kịch bản trong trận hải chiến Midway giữa Mỹ và Nhật Bản năm 1942.
Theo đó, Trung Quốc sẽ bắt chước cách thức của quân đội Mỹ trước đây là thực hiện kế hoạch tác chiến “kiềm chế và gây rối” bằng cách tấn công và quét sạch các đảo mà Tokyo đang kiểm soát. Các vụ tấn công như thế sẽ được thực hiện hoàn toàn bất ngờ và lặp lại nhiều lần cho tới khi đối phương cảm thấy mệt mỏi.
“Đối chiếu vụ hải chiến Midway với tình hình hiện nay ở Senkaku, Trung Quốc sẽ điều quân đặc nhiệm đổ bộ bất ngờ và chiếm đóng quần đảo Senkaku. Số quân này sẽ được bí mật đổ bộ lên đảo từ tàu ngầm hoặc bằng đường không để thực hiện tác chiến chiếm quần đảo từ ‘điểm mù’ trong chế độ cảnh giới của lực lượng bảo vệ bờ biển”, tác giả Yoji Koda cảnh báo.
Theo tác giả, trong trường hợp xấu nhất, khi Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản phát hiện ra sự hiện diện của lính Trung Quốc trên đảo thì “cờ hồng 5 sao”của Trung Quốc đã được cắm trên đỉnh núi và hình ảnh này sẽ được truyền trực tiếp qua vệ tinh về Bắc Kinh với thông tin rằng “quân đội Trung Quốc đã giành lại được chủ quyền và kiểm soát hiệu quả quần đảo Senkaku”. Thông tin này cũng sẽ được Trung Quốc lập tức phát đi trên toàn thế giới và sau đó, quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục chiến đấu giữ đảo một cách không khoan nhượng.
Trong trường hợp này, nếu Nhật Bản đối phó chậm trễ, quân đội Nhật sẽ mất thời điểm triển khai lực lượng phòng vệ và phát động Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật. Đó là chưa kể, người Trung Quốc luôn có câu cửa miệng “nước xa không cứu được lửa gần” mỗi khi ám chỉ việc các nước láng giềng hay các nước trong khu vực muốn tìm kiếm chiếc ô bảo vệ từ phía Mỹ.
“Trung Quốc là nước nắm quyền chủ động lựa chọn và phát động hành động”,  cựu Chỉ huy đội tàu chiến Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản cảnh báo.
Theo ông, nếu Nhật Bản không chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống có thể xảy ra, kể cả việc phải đối phó với một tình huống quân sự bất ngờ ở Senkaku/Điếu Ngư, thì sớm muộn cũng sẽ sẽ phải trả giá đắt.
“Đừng bao giờ nói rằng điều ngoài giả định sẽ không xảy ra”, ông Yoji Koda kết luận sau khi nhắc nhở về bài học thảm họa động đất – sóng thần xảy ra hồi tháng 3 năm ngoái ở Nhật Bản, sự kiện đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người dân Nhật Bản cũng chỉ vì các cơ quan chức năng không tính tới các biện pháp phòng ngừa cho những tình huống mà họ cho là sẽ không, hoặc khó có thể xảy ra.
Đức Vũ(DTO)

Friday, August 31, 2012

Lời khuyên cho “mô hình lực lượng dân quân biển” Việt Nam


 

Sau đây là bài viết “Advice on a Vietnamese “Model Maritime Militia Force” – Lời khuyên cho “mô hình lực lượng dân quân biển” Việt Nam” của tác giả James R. Holmes đăng trên tờ The Diplomat đáng để Việt Nam chúng ta tham khảo :
Một tác giả Việt Nam nói rằng Hà Nội đang “tìm kiếm mô hình lực lượng dân quân biển”, có lẽ là để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, a hem, một quốc gia châu Á lớn nào đó đang nuôi dưỡng mưu đồ riêng của mình về quần đảo này. Theo đó, vài suy nghĩ về triển vọng xây dựng một lực lượng như vậy. Thoạt đầu, khái niệm về dân quân tự vệ biển có vẻ viển vông. Các quốc gia có lực lượng hải quân, bảo vệ bờ biển, và tàu thương mại, tất cả đều có chức năng riêng, được xác định rõ ràng. Phải không?
Không nhất thiết. Có nhiều tiền lệ cho các cách khác nhau của việc kinh doanh tại vùng biển giàu tài nguyên này. Trăm hoa nở!  Trong tác phẩm “Bảo vệ biển”, viết về lịch sử (và tiền sử) của lực lượng hải quân Anh, sử gia N. A. M. Rodger quan sát thấy rằng các quốc gia biển đã từng có rất nhiều đội tàu trong nhiều thế kỷ. Vai trò và sứ mệnh của họ đã bị lu mờ, biệt ở giai đoạn trước khi triều đình tổ chức hải quân chính quy, thường trực. Chiến tranh trên biển từng là chiến thuật đầy bất ngờ ở thời kỳ xa xưa.
Lời khuyên cho mô hình dân quân biển của Việt Nam
Lời khuyên cho mô hình dân quân biển của Việt Nam. Image credit: Wikicommons
Đặc điểm của lịch sử hàng hải xem như đã gần bị quên lãng. Ví dụ, năm 2009, Đại sứ Hàng hải sang thăm Viện Quan hệ Quốc tế Clingendael, The Hague, để chiêu đãi các vị tư lệnh của Hải quân Hà Lan – những người được cử đến để thực hiện chương trình Atalanta, chiến dịch chống cướp biển trên Vịnh Aden của EU. Đại sứ Hàng hải đến đây với một vài ý tưởng làm thế nào để bảo vệ các thương gia đang quá cảnh qua vùng biển khu vực này.
Ý kiến của tôi: Vịnh Aden là một vùng biển lớn. Hải quân sẽ không bao giờ có thể triển khai đủ lính đến đây để bảo vệ từng tàu hàng trước các cuộc tấn công của hải tặc. Vậy tại sao không trang bị vũ khí cho những tàu hàng đó? Các đội tàu, lực lượng phòng thủ, thậm chí là thủy thủ, được trang bị vũ khí, có thể giữ được thế trận áp đảo bọn hải tặc trên những con tàu nhỏ. Thấy có vẻ hợp lý. Tôi đã so sánh với việc những người định cư tự trang bị vũ khí để đánh lại cướp ở Miền Tây Hoang Dã, nhưng nó gây ra phản ứng ngược một cách đáng sợ. Tôi nghĩ là cần nhiều “chủ nghĩa cao bồi Mỹ” hơn.
Rồi tôi trở lại với quá khứ hàng hải của châu Âu. Sau khi người ta sáng chế ra súng hải quân, các vua chúa châu Âu ra lệnh tất cả các thương gia đều phải được trang bị vũ khí mới nhất. Được trang bị như thế, họ có thể tự vệ trước bọn cướp. Họ cũng có thể có vị trí chiến đấu nào đó khi đất nước đưa hải quân ra đánh nhau với kẻ thù. Các bên đều có lượng lớn thương nhân được trang bị vũ khí, khi Ngài Francis Drake chỉ huy Hải quân Anh chiến đấu với đội tàu của xứ Medina Sidonia của Tây Ban Nha. Tôi đã nói: Tại sao lại không rót rượu thời Phục Hưng vào chai của thế kỷ 21. Trang bị vũ khí cho tàu buôn sẽ bảo đảm trên vùng biển ngoài khơi Somalia, sức mạnh sẽ được đáp trả bằng sức mạnh, thủy thủ sẽ có cơ hội để chiến đấu.
Ý tưởng về dân quân biển cũng đã từng mê hoặc người Mỹ từ thời xưa, một nhóm dân quân cầm vũ khí  đánh lại quân Redcoast ( quân đội Anh) trong trận Lexington – Concord, ngày nay vẫn là ký ức sống động. Tại sao lại không áp dụng mô hình đó cho chiến tranh trên các đại dương? Alfred Thayer Mahan chỉ trích thế hệ lập quốc vì họ đã tưởng họ có thể tổ chức ngay lập tức một “lực lượng dân quân biển” ít tốn kém để chống lại các tàu của Anh quốc trong cuộc tranh 1812. Mahan viết: Hải quân Mỹ và tàu chống cướp biển đạt được một số thành công đáng chú ý trong các cuộc đụng độ, nhưng Hải quân Hoàng gia đã bóp chết gần như toàn bộ tàu buôn Mỹ  vào trước năm 1814.
Tôi nghĩ ở đây có một bài học như của Mahan để lại cho Việt Nam. Lực lượng Dân Quân có thể gây rối những kẻ địch mạnh hơn họ rất nhiều, nhưng tỷ số thua so với thắng của họ quả thật là kéo dài.
Những cách thức kỳ cục để tổ chức đội tàu chẳng phải cái gì độc đáo, chỉ có ở phương Tây. Không phải nhìn đâu xa, nước Trung Hoa phong kiến đã giao phó việc bảo vệ bờ biển cho các đội tàu địa phương khác nhau. Chẳng hạn, ngư dân thường hoạt động như cánh tay bổ trợ cho lực lượng trên biển của Trung Quốc.
Một số truyền thống như thế đã kéo dài sang thời cộng sản. Ví dụ, Bắc Kinh ca ngợi vai trò của đội tàu cá quốc gia trong trận hải chiến năm 1974 với hải quân Miền Nam Việt Nam ở quần đảo Hoàng sa. Theo câu chuyện chính thức được kể lại, ngư dân Trung Quốc đã góp phần đưa hải quân nhân dân đến chiến thắng – chứng minh “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc trên các vùng biển phía nam. Ngư dân tiếp tục là lực lượng hỗ trợ trong chiến dịch hàng hải của Trung Quốc, cho đến tận ngày nay.
Các nhà chiến lược ở Hà Nội cũng nên nghiên cứu vấn đề dân quân trên biển thông qua một lăng kính đó là đọc lại học thuyết của Mao Trạch Đông về chiến tranh ba giai đoạn. Căn cứ lời Mao viết thì Việt Nam đang ở giai đoạn 1 của một cuộc đấu tranh kéo dài, khi họ phải dựa vào tài sản nghèo nàn của mình để quấy nhiễu một kẻ thù mạnh hơn rất nhiều. Họ đối đầu với một nước Trung Hoa vốn dĩ đang triển khai một hạm đội hải quân theo quy ước, rất hùng mạnh. Hải quân Trung Hoa có lẽ đang ở giữa giai đoạn 2 và 3 rồi, và đang tiếp tục phát triển. Dân quân biển cần một chỗ che chắn để có thể phát huy sức mạnh thực sự của họ. Đó là một thứ xa xỉ mà cả ngư dân Trung Quốc lẫn các chiến binh bán thời gian khác đều thích, mà dân quân Việt Nam lại không có.
Mahan rút ra nhiều bài học tương tự từ Chiến tranh năm 1812. Tàu khu trục nhỏ và các hoạt động của tàu nhỏ khác đều tốt cả, nhưng bản thân chúng không bao giờ có thể đóng vai trò quyết định khi đương đầu với một lực lượng hải quân hùng mạnh. Người Mỹ sẽ tự lừa dối mình nếu họ tin vào điều ngược lại. Tương tự, Việt Nam cần xây dựng một lực lượng hải quân chuyên nghiệp cho riêng mình, xây dựng liên minh hoặc quan hệ đối tác để làm tăng thêm sức mạnh trên đại dương, hoặc để giữ hòa khí với sức mạnh Trung Quốc.
Có một số tiền lệ trong đó một nước trên bộ nhỏ yếu có thể mượn một hạm đội để chiến đấu với một siêu cường về biển. Đó là cách Sparta đã sử dụng để chiến thắng hải quân thành Athen hùng mạnh hơn 2500 năm về trước. Thực tế, người Sparta quen sống trên đất liền đã mượn đội tàu Ba Tư, vào thời điểm quan trọng nhất của cuộc chiến Peloponnesia, tiến tới chinh phục thành Athen suy yếu. Chính trị tạo nên những người bạn cùng phe rất lạ lùng.
Một điểm cuối trong học thuyết của Mao. Mao viết rằng các du kích luồn lách trong nhân dân giống như cá bơi trên biển, hòa mình trong nước để tránh các hoạt động chống chiến tranh du kích. Điều này được áp dụng như thế nào đối với một lực lượng dân quân biển phải đi xa khỏi bờ biển Việt Nam? Tàu nhỏ thuyền nhỏ có thể hòa vào hoạt động gần bờ trên các vùng biển đông đúc, lẫn vào cả đám đông tàu thuyền để tránh bị phát hiện, bị xác định và tấn công. Hoạt động ẩn náu mà Mao đã dự đoán từ trước đó, là điều khả thi tại các vùng biển gần bờ. Quả thật, hoạt động trên các vùng biển nước nông có thể chiến thắng cả lực lượng hải quân mạnh.
Hiệu quả sẽ đến đâu khi vượt khỏi đánh bắt gần bờ, khi “biển” phục vụ hàng hải bị thu hẹp, “ngư trường” hết cá, và chỉ hải quân cực mạnh mới vươn ra được? Tôi chưa rõ mô hình dân quân biển sẽ thích ứng với vùng biển nước sâu như thế nào.
Hà Nội đối mặt với một nhiệm vụ bí ẩn, phải giữ yêu sách chủ quyền lâu dài chống lại một đối thủ có ưu thế vượt trội về kinh tế và ngày càng được trang bị kỹ. Đó không phải là điều mong muốn.
James R. Holmes (Trường Sa dịch)
Nguồn: http://thediplomat.com/the-naval-diplomat/2012/08/30/advice-on-a-vietnamese-model-maritime-militia-force/

Tuesday, August 28, 2012

Trung Quốc: Con bò tót đang bị nội thương


Cùng với các tuyên bố cứng rắn và hành động diễu võ dương oai trên Biển Ðông, Trung Quốc dường như đã rất thành công với việc diễn trò lèo lái dư luận chú ý tới cái vỏ ngoài hoàn hảo của mình. Nhưng Trung Quốc có thực sự đáng sợ như vẻ ngoài chúng ta đang thấy? Hay đây chỉ là chiêu bài nhằm giải trừ mối quan tâm của cộng đồng quốc tế về những bất ổn trong nội bộ?
“Che mắt” dư luận
Sự tăng trưởng vượt bậc của Trung Quốc không tương ứng với việc mang lại một xã hội công bằng và hạnh phúc hơn. Mà trái lại là nạn tham nhũng tràn lan, sự chênh lệch giàu nghèo và những bất đồng trong nội bộ Đảng. Những nhức nhối này như cơn đau triền miên, dai dẳng và thách thức tham vọng của Trung Quốc.
Thứ nhất: vụ Bạc Hy Lai (bí thư Thành ủy Trùng Khánh) bị cách chức đã cho thấy cuộc tranh giành vị trí lãnh đạo chủ chốt quyết liệt và gây xáo động trong Đảng nước này đến mức nào.
Thứ hai: Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc tiết lộ rằng kể từ năm 1990, đã có gần 18.000 quan chức tham nhũng Trung Quốc “cao chạy xa bay” ra nước ngoài, mang theo gần 800 tỷ nhân dân tệ (120 tỷ USD). Con số 18.000 đã cho thấy sự yếu kém của Chính phủ Trung Quốc trong nỗ lực đấu tranh chống nạn tham nhũng.
Thứ ba: Ngoài nạn tham nhũng, Trung Quốc còn phải đối mặt với thực trạng nền kinh tế trì trệ với tốc độ phát triển chậm chạp nhất kể từ 2009 đến nay. Các ngân hàng quốc doanh lớn nhất (nhà nước nắm đại đa số cổ phần) đều chồng chất nợ xấu, nợ khó đòi.
Thứ tư: Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo của Trung Quốc hiện đã đến mức báo động khi hiện nay khoảng 50,3% dân số Trung Quốc vẫn đang sống ở các vùng nông thôn. Nguy hiểm hơn khi hệ số Gini (thước đo mức phân phối thu nhập trong một xã hội) của Trung Quốc hiện nay là 0,458; vượt ngưỡng 0,4 – vốn là giới hạn được quốc tế chấp nhận.
Vì Chính quyền Trung Quốc không muốn bị xem là yếu ớt và để người dân nước này không lo lắng, hoảng hốt. Họ đã cố che đậy dư luận những yếu kém trên bằng chiêu trò phù thủy, tạo ồn ào về quân sự như liên tục phát đi các thông tin sai lệch về tình hình biển Đông song song với việc thành lập trái phép “thành phố Tam Sa” xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam; gây hấn với Nhật Bản trên biển Hoa Đông… để hướng chú ý của người dân ra khỏi tin tức về các vụ bê bối tiền bạc của một số lãnh đạo Đảng.
Dù vậy, chính sách này cũng có cạm bẫy riêng: Trước hết, Trung Quốc sẽ vấp phải những vấn đề hết sức khó khăn để duy trì an ninh cho “cơ quan quân sự Tam Sa”. Kế tiếp, các nước tranh chấp khác ở biển Đông có thể liên kết để phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và thậm chí có thể hoan nghênh sự hiện diện quân sự và viện trợ quân sự của Mỹ.
Trung Quốc được ví von như hình ảnh “con bò tót đang bị nội thương”
Trung Quốc được ví von như hình ảnh “con bò tót đang bị nội thương”
“Con bò tót đang bị nội thương”
Trung Quốc hiện giờ có thể được ví von như hình ảnh “con bò tót đang bị nội thương”, thế nên “con bò tót” muốn “rung cây dọa khỉ” gây hấn ra bên ngoài để có thời gian giải quyết ổn thỏa yếu kém trong nội bộ đất nước. Đồng thời, Trung Quốc cũng đang chịu sức ép lớn từ phía Mỹ nên muốn tạo cú hích để phá vòng vây. Lúc này “con bò tót” đang bị thương và tỏ ra hung hãn thì nó sẵn sàng húc bất cứ ai nào bén mảng tới gần nó. Tình thế này, đòi hỏi ở Việt Nam hơn lúc nào hết là một sự bản lĩnh, khôn ngoan, khéo léo trong việc hoạch định và thực thi các chính sách chiến lược của mình. Tránh tất cả các cú húc của “con bò tót đang bị nội thương”, nhưng vẫn giữ vững được chủ quyền cho đến khi “con bò tót” bị các “hiệp sĩ” hạ gục./.
Bạch Dương

Học giả Trung Quốc kêu gọi bỏ “đường 9 đoạn”


Sau nhiều ý kiến phản bác “đường chín đoạn” vô lý của Trung Quốc, học giả Lý Lệnh Hoa cùng một số học giả Trung Quốc mới đây đã yêu cầu Chính phủ TQ xóa bỏ đường này, bởi không thể cứ tiếp tục “sai lại càng sai”.
Tàu chiến Trung Quốc neo đậu tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Tàu chiến Trung Quốc neo đậu tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Khởi đầu là lời kêu gọi của ông Lý Lệnh Hoa, cựu thành viên Trung tâm Tin tức hải dương quốc gia Trung Quốc, được đưa ra tại buổi hội thảo mang tên “Công ước luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) và việc phân chia biên giới biển Trung Quốc”. Toàn văn buổi hội thảo được Viện Nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc thuộc báo điện tử Sina.com tổ chức và công bố hôm 27-8.
Không thể để “sai lại càng sai”
Theo ông Lý Lệnh Hoa, Trung Quốc cần phải hủy bỏ đường chín đoạn nếu không muốn tự biến mình thành “kẻ thù của nhiều nước”. Việc khư khư chiếm trọn biển Đông đang dần khiến Trung Quốc trở nên “không thể chấp nhận được” trước các nước láng giềng, bởi sẽ chẳng nước nào chấp nhận cái đường vô lý do Trung Quốc tự đặt ra và “còn lâu người ta mới đồng ý cho Trung Quốc sấn đến tận cửa nhà mình”.
Học giả Lý nhấn mạnh việc hủy bỏ đường chín đoạn ngày càng trở nên cấp bách trong giai đoạn hiện nay nếu Trung Quốc không muốn tự cô lập. Trung Quốc không thể đi ngược lại những nguyên tắc do chính mình cam kết khi tham gia UNCLOS. Trung Quốc “buộc phải đi chung con đường với cả thế giới”. Trung Quốc phải tôn trọng quy ước do mình đã ký kết nếu không muốn ngày một xấu đi trong mắt cộng đồng quốc tế.
Đồng tình với việc Trung Quốc cần hủy bỏ đường chín đoạn, học giả Trâu Hồng Minh cũng cho rằng “Trung Quốc không thể cứ mãi trở thành đối thủ của nhiều nước, đặc biệt là các hàng xóm sát vách chúng ta. Không phải cứ dùng vũ lực chiếm lấy lãnh thổ là giải quyết được mọi vấn đề”.
Tại cuộc hội thảo, mặc dù không ít nhà nghiên cứu luật biển, học giả tỏ ra đồng tình với các quan điểm và lời kêu gọi của học giả Lý Lệnh Hoa về đường chín đoạn, nhưng một số học giả thừa nhận đây là một chuyện không hề đơn giản. “Từ thời tiểu học, người Trung Quốc đã được học về đường chín đoạn. Chúng ta gọi đó là đường biên giới trên biển của nước mình. Đến nay điều này đã nằm sâu vào đầu óc của chúng ta. Thật khó khi đột nhiên phải xóa bỏ điều đó” – học giả Do Ký nói. Cũng theo ông, việc “đi mãi cũng thành đường” không chỉ khiến chuyện hủy bỏ đường chín đoạn trở nên vô cùng khó khăn đối với người dân mà còn với cả cấp lãnh đạo.
“Trung Quốc đang ở vào thế dù biết mình vô lý vẫn phải “ném lao theo lao” – học giả Do Ký nhìn nhận. Song dù có khó khăn thế nào, theo ông Lý Lệnh Hoa, không thể viện cớ “chủ nghĩa dân tộc” để tiếp tục “sai lại càng sai” trong vấn đề biển Đông.
Tại cuộc hội thảo này, ông Lý Lệnh Hoa cho biết ông chưa bao giờ sợ cô độc bởi ông đang nói lên sự thật. “Chỉ khi tuân thủ UNCLOS, hòa bình, ổn định cho Trung Quốc và các nước trong khu vực mới được giữ vững” – ông nhấn mạnh.
“Ngoại giao tờ séc”
Ngoại trưởng Úc Bob Carr ngày 28-8 đã lên tiếng cảnh báo các nước trong khu vực Thái Bình Dương về chính sách “ngoại giao tờ séc” của Trung Quốc. AFP dẫn lời ông Carr cho biết đó là chính sách chi tiền để củng cố quốc phòng và viện trợ, cho vay không lãi suất mà Trung Quốc đang thực hiện với các quốc gia đảo ở Thái Bình Dương.
Viện nghiên cứu và cố vấn chiến lược Lowy ước tính từ năm 2005 Trung Quốc đã cam kết hơn 600 triệu USD “nợ mềm” không lãi suất cho các nước như Tonga, Samoa và quần đảo Cook.
ĐÔNG PHƯƠNG – Mỹ LOAN (TTO)